Gần đây, tôi vừa xem lại phim You are the apple of my eyes. Phim kể về một chuyện tình đẹp của một cô cậu học sinh, thích nhau rồi cũng dừng ở những rung động đầu đời vì những con đường riêng của mỗi người. Lúc bạn bè gặp lại nhau, đủ mặt tất cả thì cũng chính là lúc đám cưới của nhân vật nữ chính. Tôi thích cái kết thúc như thế, một kết thúc không gọi là quá buồn cũng không phải là quá thơ như một câu chuyện cổ tích thời hiện đại. Phim gợi nhắc tôi nhiều về một thời học sinh vô ưu của mình. Lúc xem đến đoạn nhân vật nữ chính Thẩm Gia Nghi đọc bài phát biểu trước toàn trường trong ngày lễ tốt nghiệp, bao nhiêu kí ức nhá nhem ùa về trong một chiều heo hút gió.
Tôi còn nhớ, ngày tổng kết năm học, cũng là ngày trường tổ chức lễ trưởng thành và tri ân thầy cô, hôm đó nắng đẹp và bầu trời cũng rất xanh. Không cần phân công, răn đe hay kỉ luật gì cả, ai cũng đến sớm, xếp dọn bàn ghế. Đứa nào cũng ít nói hơn mọi ngày, đôi lúc nhìn nhau, những cái nhìn thật lâu và thật sâu. Tôi nhớ hôm đó thằng Tâm không nói nhiều như mọi khi, nó lầm lầm lì lì, lê từng bước nặng nhọc khi khiêng mấy cái ghế dành cho giáo viên phụ thầy. Tôi nhớ nhỏ Mai cũng đến sớm hơn mỗi ngày, trên tay còn thêm hai bịch khăn giấy, miệng nhoẻn cười tinh nghịch. Nó nói là đứa nào khóc bữa nay tao cho giấy. Tôi còn nhớ nhỏ Trâm và nhỏ Nhã cứ cuống cuồng lên, tay quẩy chân rung chuẩn bị cho bài phát biểu trước toàn trường, rồi khi tụi nó đọc xong bài phát biểu, tôi thấy nước mắt chạy dài trên cánh mũi đứa ngồi trên, nước mắt rơi xuống sân trường bốc hơi theo nắng lên bầu trời xanh như mặt biển, có giọt nước mắt thằng con trai vướng lại ngay mi, ươn ướt. Tôi cũng còn nhớ, ngày đó, mình không khóc, lặng lẽ nhìn hai hàng cây chạy dài trên sân trường hắt đỏ một màu phượng vĩ rồi thấy tim hẫng đi một nhịp, đau nhói.
Những ngày đi học, tôi gồng mình mỗi ngày gần cả chục cây số, học hai buổi, sáng đi trưa về, ngủ được một giấc trưa thì đi học tiếp. Nhớ cái nắng những ngày hè cháy da cháy thịt, đầu đội nón, áo dài tay mà vẫn thấy cái nóng len lỏi qua từng thớ thịt. Có mấy ngày nắng to, tan trường, chỉ muốn nằm lại lớp. Năm đó, huyện chưa phát triển như bây giờ. Cả lớp, chừng mấy đứa có được vài chiếc cúp độ ba mẹ cho chạy đi học, phần vì nhà xa, phần vì gia đình cũng có điều kiện. Còn lại bao nhiêu đều gắn bó với xe đạp. Trưa nắng, chiều mưa, cả bọn đợi nhau về chung. Hàng nối hàng về, riết rồi thành quen. Bữa nào có đứa nghỉ học, tự dưng thấy trống vắng, nhớ nhớ. Có lần, trời mưa, nhỏ bạn đạp xe vô ý để áo dài kẹt vào câm xe, cả bọn hì hụi gỡ gạc gần nửa tiếng mới xong, mặt nhỏ buồn hiu. Một năm có hai cái áo dài mới chứ mấy, kẹt vô câm xe kiểu đó là coi như mất một bộ mới.
Bây giờ nghĩ lại, tôi không hiểu sao hồi học sinh, đầu óc lúc đó xem ra linh hoạt hơn bây giờ, nghĩ ra đủ mọi trò vui. Lần kia, nhặt được tấm hình thẻ ba nhân bốn của nhỏ bạn trong lớp, tôi được giao ghi đặc điểm nhân dạng cùng thông tin cá nhân lên một tờ giấy, rồi tụi nó dán tấm hình lên, cuối cùng ghi dòng chữ ngỏ “Em rất móng chuồng” ở dưới. Sau đó, photo gần cả chục tấm dán khắp hành lang. Lần khác, trong lớp, có đứa hay cởi dép, cả đám âm mưu lấy dép nó, bỏ vô bao giấy, bấm kim bấm rồi dán lại bít bùng bốn phương tám hướng, đưa thằng Hưng lên trước lớp làm trò, kiểu như là phong bì đề thi vẫn còn niêm phong đầy đủ. Lúc nó đang nói ngon lành thì thầy bước vào lớp, nó hoảng quá, quăng đại qua bàn giáo viên. Thầy mở ra thấy chiếc dép, thầy cười rồi hỏi chiếc kia đâu. Cả lớp cũng cười, chỉ có đứa bị lấy dép là cười gượng chút thôi. Có nhiều lần bạo lực hơn, cả đám hợp lại “đánh hội đồng” một đứa, mỗi đứa một tay, khiêng “nạn nhân” xuống bãi cỏ dưới sân trường, hành hạ đủ bảy bảy bốn chín ải rồi mới thả ra. Cứ xoay vòng vậy, hết đứa này rồi tới đứa kia, hôm trước làm người hành hạ, hôm sau thành người bị hành, đúng như kiểu “lên voi xuống chó”.
Nhớ nhất, thương nhất là vào những ngày chọn trường, chọn khối thi đại học. Cái quyết định có trách nhiệm với chính bản thân mình mà một đứa con nít không phải con nít mà người lớn không phải người lớn phải tự đưa ra cho mình. Mấy hôm cận kề ngày nộp hồ sơ, không đứa nào học hành được. Ngồi túm tụm dưới góc lớp, xin đứa này lời khuyên, xin đứa kia ý kiến. Đứa thì thích ngành này mà sợ không thi nổi, điểm ngành này trường nào cũng lấy cao. Đứa thì phân vân, lưỡng lự giữa ngành mình thích và nguyện vọng của gia đình. Cũng vui cho một vài đứa khá chắc chắn với lựa chọn của mình, nhưng buồn thay, cũng có người phải đứng giữa lằn ranh giữa chữ nghĩa và mưu sinh. Những ngày đó, không những phải trăn trở cho mình, mà còn băn khoăn dùm đứa bạn ngồi kế, gánh trên vai sự tin tưởng của người khác chưa bao giờ là một việc nhẹ nhàng. Thế rồi, mỗi người cũng tìm được một ngọn đèn dẫn lối cho riêng mình, hối hả nhau trong cận kề những ngày vượt ải.
Kì thi năm ấy rồi cũng qua, cũng có nước mắt xen lẫn nụ cười, cũng có tự hào đan xen hụt hẫng, cũng có niềm vui khuất lấp nỗi buồn. Ngày đứa này tiếp tục con đường đèn sách, mài đũng quần thêm bốn năm ở Sài Gòn náo nhiệt, cũng là lúc đứa khác tạm gác ước mơ của mình, đi trên một con đường khác có thể gập ghềnh hơn, chênh chông hơn nhưng không có nghĩa là ít cơ hội hơn. Đôi khi, người ta vẫn hay ngờ vực về những lựa chọn của mình, những lúc ấy, có khi, ta mong mình được chọn.
Nghĩ về những ngày xưa cũ ấy, cũng chẳng phải lục tìm chật vật trong mớ kí ức cũ nhèm phủ bụi, chỉ đơn giản là khi nghĩ về là nhớ hết. Bởi những gì đã trải qua còn trong xanh và mát lành lắm, đủ ấm lòng mỗi khi nhớ về, những kỉ niệm của một thời đã qua – một thời ở lại.